Bà là vợ ông Vũ Ngọc Phan, con ông Lê Dư, một nhà cách mạng chống Pháp. Bà sinh năm 1908 ở làng Nông Sơn (Quảng Nam). Học chữ Hán bảy tám năm. Chữ Tây chỉ học đến lớn nhất.
Bà đã đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Ngày nay, Hanoi Tân Văn, Đàn bà.
Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm dịu ngọt ngào như thơ Vân Đài. Nhưng ít đến tích thơ Đường và thành thực hơn. Như đoạn cuối trong bài “Lòng quê” trích theo đây, lời thơ thực yểu điệu dễ thương, Hằng Phương mượn lời thơ để nói lòng mình. Nhưng thực ra không còn biết là lời người hay lời chim. Bởi mối tình ở đây nhẹ nhàng quá, trong trẻo quá. Người thơ tưởng chừng đã biến thành chim,…
Tình quê còn đưa thi hứng cho Hằng Phương nhiều lần nữa. Có khi nó lẫn với lòng thương người mẹ đã khuất:
Ngày nay bên khóm trúc
Em thơ khó tưng rức;
Tìm mẹ biết tìm đâu?
Trời xanh xanh một màu.
Có khi nó chỉ là tình lưu luyến cảnh quê hương:
Ai về cố quận cho ta nhắn
Gởi chút lòng thương nhớ núi sông.
Hằng Phương rất mến cảnh. Người âu yếm nhìn những lúc trăng lên:
Sáng trưng mái ngói nhà ai,
Đôi chim ngỡ buổi ban mai, giật mình.
Những lúc bình minh:
Sương đêm còn đọng trên cành,
Rưng rưng hạt ngọc, long lanh nhìn trời,..
Hằng Phương là tên, không phải biệt hiệu.
Nách tường đôi lúc chìm sâu,
Nằm trong tổ ấm, thò đầu nhở nhơ…
Những bức tranh nho nhỏ ấy đơn sơ mà xinh tươi làm sao? Hồn thi nhân âu cũng thế.
LÒNG QUÊ
Tặng V.N.P.
Xưa kia em ở bên trời,
Ngây thơ chưa rõ cuộc đời là chi,
Mặc cho ngày tháng trôi đi
Tóc mây nào biết có khi bạc đầu
Chim non ở chốn rừng sâu,
Quanh mình chỉ thấy một màu xanh xanh
Bình minh buổi ấy gặp anh,
Rủ em ra chốn đô thành xa khơi.
Yêu anh, em hóa yêu đời,
Theo anh chắp cánh tung trời bay cao.
Anh đưa em đến vườn đào,
Màu tươi, sắc thắm, em nào dám chê,
Nhưng em luống nặng lòng quê,
Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non,
Nhớ nơi làng xóm con con,
Nhớ hương cấy quế chon von trên đời.
Bạn xưa, nhớ yến tha mồi
Cành xưa, em đỗ trong hồi còn thơ …
Đường xa, ngoảnh lại ngẩn ngơ,
Trông theo mấy trắng thẫn thờ mắt xanh…
